Các trường hợp thay đổi người giám hộ theo Bộ luật Dân sự 2015

Đăng lúc Thứ năm - 23/07/2026 05:58 bởi Hanel NAN
Trong quá trình thực hiện việc giám hộ, không phải lúc nào người giám hộ cũng có thể tiếp tục thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Khi người giám hộ không còn đủ điều kiện, không còn khả năng thực hiện việc giám hộ hoặc thuộc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật, việc thay đổi người giám hộ là cần thiết nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Vậy pháp luật hiện hành quy định những trường hợp nào phải thay đổi người giám hộ? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
(Ảnh minh hoạ)
(Ảnh minh hoạ)

1. Giám hộ là gì? 

- Theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật Dân sự năm 2015, giám hộ là việc cá nhân hoặc pháp nhân được pháp luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 48 Bộ luật Dân sự năm 2015 để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

Người được giám hộ bao gồm người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Đối với trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, việc xác lập giám hộ phải có sự đồng ý của người đó nếu tại thời điểm yêu cầu họ vẫn có khả năng thể hiện ý chí của mình.

2. Điều kiện của cá nhân làm người giám hộ

Căn cứ quy định tại Điều 49 Bộ luật dân sự, cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:

– Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

– Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

– Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.

– Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.

3. Các trường hợp thay đổi người giám hộ

Khoản 1 Điều 60 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về các trường hợp thay đổi người giám hộ. Theo đó, người giám hộ được thay đổi trong trường hợp sau đây:

– Người giám hộ không còn đủ các điều kiện về điều kiện của cá nhân làm người giám hộ, điều kiện của pháp nhân làm người giám hộ được quy định tại mục 2 nêu trên;

– Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự, mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại;

– Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ;

– Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ.

4. Quyền của người giám hộ

Quyền của người giám hộ được quy định tại Điều 58 Bộ luật dân sự 2015, bao gồm các quyền sau: 

  • Thứ nhất, quyền sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ. Việc này giúp người giám hộ có cơ sở pháp lý để sử dụng tài sản của người được giám hộ cho các khoản chi phục vụ cuộc sống, học tập, khám chữa bệnh, ăn ở và các nhu cầu sinh hoạt cần thiết khác. Việc sử dụng tài sản phải xuất phát từ lợi ích của người được giám hộ, không được sử dụng vào mục đích cá nhân của người giám hộ hoặc của người khác.

  • Thứ hai, quyền được thanh toán các chi phí hợp lý trong việc quản lý tài sản của người được giám hộ. Điều này nhằm bảo đảm người giám hộ không phải tự bỏ chi phí để thực hiện nghĩa vụ của mình. Các khoản chi phí này có thể bao gồm chi phí bảo quản, sửa chữa tài sản, chi phí thực hiện các thủ tục hành chính hoặc các khoản chi cần thiết khác liên quan đến việc quản lý tài sản. Tuy nhiên, các khoản chi phải hợp lý, có căn cứ và phục vụ trực tiếp cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ.

  • Thứ ba, quyền đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật. Đây là quyền quan trọng nhất của người giám hộ. Do người được giám hộ là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên họ không thể hoặc không đủ khả năng tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự. Người giám hộ sẽ thay mặt họ thực hiện các giao dịch cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời chịu trách nhiệm thực hiện đúng phạm vi đại diện theo quy định của pháp luật.

Đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, pháp luật không mặc nhiên trao toàn bộ các quyền nêu trên cho người giám hộ. Phạm vi quyền của người giám hộ sẽ do Tòa án quyết định căn cứ vào mức độ khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của người được giám hộ. Quy định này nhằm bảo đảm tôn trọng tối đa quyền tự quyết của người được giám hộ, chỉ hạn chế quyền trong phạm vi thực sự cần thiết và phù hợp với từng trường hợp cụ thể.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bài viết cùng chuyên mục
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây