Cảnh giác các thủ đoạn mới nhằm chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng

Đăng lúc Thứ hai - 05/10/2026 00:07 bởi Hanel NAN
Các thủ đoạn lừa đảo liên quan đến tài khoản ngân hàng đang ngày càng đa dạng và khó nhận biết. Đối tượng phạm tội không chỉ giả danh nhân viên ngân hàng hoặc cơ quan nhà nước mà còn có thể can thiệp trực tiếp vào thẻ thanh toán, giả danh luật sư hỗ trợ thu hồi tiền hoặc tiếp cận doanh nghiệp dưới danh nghĩa môi giới tín dụng.Người sử dụng dịch vụ ngân hàng và doanh nghiệp cần nhận diện sớm các dấu hiệu bất thường, đồng thời tuyệt đối không cung cấp thông tin bảo mật, mã xác thực hoặc quyền truy cập tài khoản cho người khác.

1. Đánh tráo chip trên thẻ thanh toán

Một thủ đoạn cần lưu ý là việc thay chip thật trên thẻ thanh toán bằng chip giả nhằm phục vụ hành vi chiếm đoạt tài sản. Sau khi bị can thiệp, thẻ có thể vẫn hoạt động khi đưa vào máy POS nhưng chức năng thanh toán không tiếp xúc (Contactless) không còn hoạt động bình thường. Một số dấu hiệu vật lý có thể xuất hiện như chip bị bong, có vết dán đè, trầy xước hoặc phần nhựa xung quanh chip có biểu hiện cong, biến dạng hay đổi màu. Để hạn chế rủi ro, chủ thẻ nên trực tiếp quan sát quá trình thanh toán, không giao thẻ cho người khác thực hiện giao dịch thay và không cho người khác mượn thẻ.

2. Giả danh cơ quan nhà nước để yêu cầu liên kết tài khoản nhận trợ cấp

Đối tượng lừa đảo có thể tự xưng là cán bộ cơ quan nhà nước và thông báo người dân cần thực hiện thủ tục xác minh hoặc liên kết tài khoản để nhận tiền trợ cấp, hỗ trợ an sinh xã hội. Trong một số trường hợp, người dân ban đầu được hướng dẫn thực hiện các giao dịch có giá trị nhỏ. Sau khi tạo được lòng tin thông qua việc hoàn trả tiền hoặc báo giao dịch không thành công, đối tượng tiếp tục yêu cầu chuyển khoản vào một tài khoản cá nhân với số tiền lớn hơn. Người dân không nên chuyển tiền hoặc cung cấp thông tin tài khoản chỉ dựa trên cuộc gọi, tin nhắn hoặc hướng dẫn từ người tự xưng là cán bộ nhà nước mà chưa kiểm chứng được danh tính và nội dung yêu cầu.

3. Giả danh nhân viên ngân hàng để lấy thông tin bảo mật

Một hình thức phổ biến khác là giả danh nhân viên ngân hàng và đưa ra các thông báo như:

  • Tài khoản phát sinh giao dịch bất thường;

  • Tài khoản hoặc dịch vụ ngân hàng sắp bị khóa;

  • Khách hàng được miễn phí thường niên;

  • Được nâng hạn mức thẻ tín dụng;

  • Được nhận quà hoặc trúng thưởng.

Sau đó, đối tượng gửi đường dẫn giả mạo hoặc yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin cá nhân, mật khẩu đăng nhập, số thẻ, mã PIN hoặc mã OTP. Trường hợp người dùng truy cập đường dẫn giả hoặc cài đặt phần mềm không rõ nguồn gốc, đối tượng có thể chiếm quyền điều khiển thiết bị, từ đó tiếp cận tài khoản ngân hàng hoặc ví điện tử.

4. Giả danh luật sư để lừa người đã từng bị chiếm đoạt tiền

Một thủ đoạn khác nhắm trực tiếp tới những người đã từng là nạn nhân của lừa đảo. Đối tượng có thể tự nhận là luật sư, chuyên gia hoặc đơn vị hỗ trợ thu hồi tiền đã bị chiếm đoạt và cam kết có khả năng lấy lại số tiền bị mất. Sau khi tạo được lòng tin, đối tượng yêu cầu người bị hại thanh toán các khoản như:

  • Phí hồ sơ;

  • Phí xử lý;

  • Phí sử dụng cổng thanh toán;

  • Tiền bảo đảm để giải ngân;

  • Chi phí được gọi là “lót tay” hoặc chi phí làm việc với cơ quan, tổ chức có liên quan.

Thực tế, người bị hại có thể tiếp tục mất tiền lần thứ hai nếu thực hiện theo các yêu cầu này.

5. Doanh nghiệp cần cảnh giác với dịch vụ “bao đậu” hồ sơ vay vốn

Đối với doanh nghiệp, rủi ro có thể phát sinh từ các cá nhân hoặc tổ chức tự nhận là môi giới tín dụng và đưa ra các cam kết như “bao toàn bộ hồ sơ”, “bảo đảm được phê duyệt” hoặc tuyên bố có quan hệ với cán bộ ngân hàng. Doanh nghiệp có thể bị yêu cầu thanh toán phí môi giới, phí xử lý nhanh hoặc các khoản chi phí không chính thức từ khoảng 1% đến 5% giá trị khoản vay. Nguy hiểm hơn, một số đối tượng còn hướng dẫn doanh nghiệp làm giả hoặc điều chỉnh tài liệu như:

  • Phương án sản xuất, kinh doanh;

  • Giá trị tài sản bảo đảm;

  • Báo cáo tài chính;

  • Báo cáo thuế.

Đồng thời, doanh nghiệp có thể bị yêu cầu cung cấp tài khoản ngân hàng điện tử, mã OTP, chữ ký số hoặc USB Token. Ngoài nguy cơ bị chiếm đoạt tài sản, doanh nghiệp còn có thể phát sinh rủi ro pháp lý nếu sử dụng hồ sơ hoặc tài liệu không phản ánh đúng thực tế.

6. Lừa đảo qua tài khoản ngân hàng có thể bị xử lý hình sự như thế nào?

Tùy vào phương thức thực hiện, giá trị tài sản bị chiếm đoạt và hậu quả gây ra, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các tội danh khác nhau. Giả danh để chiếm đoạt tiền có thể bị xử lý về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trường hợp đối tượng giả danh cán bộ cơ quan nhà nước, nhân viên ngân hàng, luật sư hoặc môi giới tín dụng, sử dụng thông tin gian dối làm cho nạn nhân tin tưởng và tự nguyện giao tài sản thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Theo khoản 1 Điều 174, người dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản trị giá từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp luật định, có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Mức hình phạt tăng theo giá trị tài sản bị chiếm đoạt và tính chất của hành vi. Khung hình phạt cao nhất có thể lên tới 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân khi thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 174, trong đó có trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500 triệu đồng trở lên. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

7. Can thiệp thẻ ngân hàng, truy cập tài khoản để lấy tiền có thể bị xử lý theo Điều 290 Bộ luật Hình sự

Đối với các hành vi như đánh tráo chip, làm hoặc sử dụng thẻ ngân hàng giả, truy cập trái phép tài khoản hoặc sử dụng thông tin thẻ để chiếm đoạt tài sản, người thực hiện có thể bị xử lý về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo Điều 290 Bộ luật Hình sự. Khung hình phạt cơ bản của tội này là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trường hợp chiếm đoạt tài sản từ 500 triệu đồng trở lên, gây thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên hoặc sử dụng từ 500 thẻ giả trở lên thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

8. Mua bán trái phép thông tin tài khoản ngân hàng có thể bị phạt đến 07 năm tù

Trường hợp thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán hoặc công khai trái phép thông tin tài khoản ngân hàng, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 291 Bộ luật Hình sự về Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng. Khung hình phạt cao nhất của tội danh này có thể lên tới 07 năm tù, trong đó có trường hợp thông tin vi phạm liên quan đến 200 tài khoản trở lên hoặc người phạm tội thu lợi bất chính từ 200 triệu đồng trở lên.

9. Người dùng cần làm gì để bảo vệ tài khoản ngân hàng?

Để hạn chế nguy cơ bị chiếm đoạt tài sản, người sử dụng dịch vụ ngân hàng cần đặc biệt lưu ý:

  • Không truy cập đường link được gửi từ nguồn không xác định;

  • Không cài đặt ứng dụng theo yêu cầu của người lạ;

  • Không cung cấp mật khẩu đăng nhập ngân hàng;

  • Không cung cấp số thẻ, mã PIN hoặc mã OTP;

  • Không cung cấp chữ ký số, USB Token hoặc quyền điều khiển thiết bị cho người khác;

  • Kiểm tra kỹ tình trạng vật lý của thẻ nếu phát hiện chức năng thanh toán bất thường;

  • Không chuyển tiền theo hướng dẫn của người tự nhận là nhân viên ngân hàng, cán bộ nhà nước hoặc luật sư nếu chưa xác minh;

  • Doanh nghiệp không nên sử dụng dịch vụ môi giới yêu cầu làm giả, sửa chữa hoặc nâng khống hồ sơ vay vốn.

Khi phát hiện giao dịch bất thường hoặc nghi ngờ tài khoản đã bị xâm nhập, chủ tài khoản nên khóa thẻ, khóa tài khoản hoặc dịch vụ ngân hàng điện tử ngay khi có thể, liên hệ trực tiếp với ngân hàng và trình báo cơ quan Công an để được xử lý kịp thời.

Kết luận

Các thủ đoạn lừa đảo liên quan đến tài khoản ngân hàng ngày càng kết hợp nhiều yếu tố công nghệ và tâm lý, khiến người bị hại khó nhận biết trong thời gian ngắn. Bên cạnh việc bảo mật thông tin cá nhân và thông tin xác thực, người dùng cần kiểm tra kỹ danh tính của người liên hệ trước khi thực hiện bất kỳ yêu cầu chuyển tiền, cài đặt ứng dụng hoặc cung cấp quyền truy cập tài khoản nào. Tùy theo hành vi cụ thể, người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc mua bán trái phép thông tin tài khoản ngân hàng có thể bị xử lý theo Điều 174, Điều 290 hoặc Điều 291 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bài viết cùng chuyên mục
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây