Chấm dứt hôn nhân khi vợ, chồng chết hoặc toà án tuyên bố là đã chết
Căn cứ pháp lý
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
- Bộ luật dân sự năm 2015
Thời điểm chấm dứt hôn nhân
Điều 65 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về thời điểm chấm dứt hôn nhân như sau:
- Hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết.
- Tòa án tuyên bố là đã chết.
Như vậy: - Xét trường hợp chết sinh học, hôn nhân chấm dứt từ thời điểm được ghi trên giấy khai tử.
- Xét trường hợp cái chết pháp lý, hôn nhân chấm dứt theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án.
Một người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được quy định tại Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015, trong các trường hợp sau: - Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
- Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
- Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015.
Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết (khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015).
Điều 65 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về thời điểm chấm dứt hôn nhân như sau:
- Hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết.
- Tòa án tuyên bố là đã chết.
Như vậy: - Xét trường hợp chết sinh học, hôn nhân chấm dứt từ thời điểm được ghi trên giấy khai tử.
- Xét trường hợp cái chết pháp lý, hôn nhân chấm dứt theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án.
Một người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được quy định tại Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015, trong các trường hợp sau: - Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
- Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
- Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015.
Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết (khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015).
Giải quyết tài sản của vợ, chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
Khi một trong hai bên vợ hoặc chồng chết, hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, tài sản của người đó được giải quyết theo quy định như sau:
- Tài sản chung của vợ chồng sẽ do bên còn sống quản lý, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.
- Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
- Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.
Thời hạn hạn chế không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm (Điều 661 Bộ luật dân sự 2015) - Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo các quy định nêu trên, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.
Quan hệ nhân thân, tài sản khi vợ, chồng đã bị tuyên bố là đã chết mà trở về
Có những trường hợp, người bị Tòa án tuyên bố là đã chết nhưng trên thực tế họ vẫn sống. Trong trường hợp người này quay về thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản được giải quyết như sau:
Về quan hệ nhân thân: Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết:
Trường hợp mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn;
Trường hợp có quyết định cho ly hôn của Tòa án theo quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì quyết định ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật;
Trường hợp vợ, chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.
Về quan hệ tài sản:
Trường hợp hôn nhân được khôi phục:
Quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực.Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó.
Trường hợp hôn nhân không được khôi phục: tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.

SỬA LUẬT TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN: ĐƯƠNG SỰ TỰ THU THẬP CHỨNG CỨ – ĐỔI MỚI TIẾN BỘ HAY THÁCH THỨC CHO NGƯỜI DÂN?
29/08/2026
BẠO LỰC TẠI NƠI CÔNG CỘNG: HÀNH VI CỦA NHÂN VIÊN BẢO VỆ VỚI TÀI XẾ XE ÔM CÔNG NGHỆ DƯỚI GÓC NHÌN PHÁP LÝ
29/08/2026
ĐỊNH HƯỚNG SỬA ĐỔI LUẬT ĐẤT ĐAI 2024 VÀ CHÍNH SÁCH THUẾ MỚI: TÁC ĐỘNG TỚI THỊ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
21/08/2026
PHÂN TÍCH PHÁP LÝ VỤ ÁN HIẾP DÂM NỮ CÔNG DÂN MỸ TẠI PHÚ THỌ: NGUYÊN TẮC TÀI THÀNH VÀ KHUNG HÌNH PHẠT ĐỐI MẶT
21/08/2026
Quy Định Về Bồi Thường Tái Định Cư Và Suất Tái Định Cư Tối Thiểu Khi Nhà Nước Thu Hồi Đất
14/08/2026






