Ngoại tình có bị xử phạt không? Phạm vi xử lý theo quy định hiện hành
1. Pháp luật quy định thế nào về nghĩa vụ chung thủy?
Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2014, có hiệu lực từ 01/01/2015, xác lập nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng tại khoản 1 Điều 2.
Khoản 1 Điều 19 Luật này quy định vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ và thực hiện công việc trong gia đình.
Để bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, điểm c khoản 2 Điều 5 cấm các hành vi sau:
Người đang có vợ hoặc đang có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác;
Người chưa có vợ hoặc chưa có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ người đó đang có vợ hoặc đang có chồng.
Như vậy, nghĩa vụ chung thủy là nghĩa vụ của vợ chồng. Còn căn cứ để xử lý vi phạm chế độ một vợ, một chồng được pháp luật xác định theo các hành vi nêu trên.
2. Không phải mọi trường hợp được gọi là “ngoại tình” đều bị phạt tiền hoặc truy cứu hình sự
Pháp luật dùng các dấu hiệu cụ thể là “kết hôn” hoặc “chung sống như vợ chồng” để xác định hành vi bị cấm. Do đó, không thể chỉ dựa vào cách gọi “ngoại tình” để khẳng định một người đương nhiên bị xử phạt hành chính hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự.
Việc xử lý phụ thuộc vào bản chất hành vi, chứng cứ và việc có đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định hay không. Vi phạm nghĩa vụ chung thủy trong quan hệ hôn nhân có thể là tình tiết cần xem xét khi giải quyết quan hệ gia đình, nhưng chế tài hành chính và hình sự chỉ đặt ra khi thuộc trường hợp mà pháp luật quy định.
3. Mức phạt hành chính đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng
Nghị định số 109/2026/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 01/4/2026 và có hiệu lực từ 18/5/2026, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
Theo khoản 1 Điều 62 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng được áp dụng đối với cá nhân thực hiện một trong các hành vi:
Đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn với người khác; người chưa có vợ hoặc chồng kết hôn với người mà mình biết rõ đang có chồng hoặc vợ.
Đang có vợ hoặc chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác.
Người chưa có vợ hoặc chồng chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ đang có chồng hoặc vợ.
Khoản 2 Điều 62 quy định mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một số hành vi khác về kết hôn, ly hôn, như kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người có quan hệ huyết thống thuộc trường hợp bị cấm, cưỡng ép hoặc lừa dối kết hôn, lợi dụng kết hôn hoặc ly hôn. Mức phạt này không phải là mức phạt chung cho hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
4. Khi nào có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015, quy định tại Điều 182 về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
Người đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ đang có vợ, có chồng, có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:
Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; hoặc
Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về chính hành vi này mà còn vi phạm.
Khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm được áp dụng khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp:
Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; hoặc
Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.
5. Lưu ý khi đánh giá một vụ việc cụ thể
Để xác định trách nhiệm pháp lý, cần làm rõ tình trạng hôn nhân của các bên, hành vi có phải là kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng hay không, yếu tố “biết rõ” tình trạng hôn nhân của người kia và các điều kiện khác của từng chế tài. Việc công khai thông tin, hình ảnh hoặc đời tư của các bên cũng cần thận trọng vì danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và quyền riêng tư được pháp luật bảo vệ.












